Ngày 26/6/2007, Liên bộ Liên Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội đã ký ban hành Thông tư Liên tịch số 70 /2007/TTLT-BTC- BLĐTBXH
hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình quốc
gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động đến năm
2010. Theo đó, các Dự án của Chương trình quốc gia về bảo hộ lao động,
an toàn lao động, vệ sinh lao động theo Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg
ngày 18/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm:
a) Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hộ lao động;
b) Cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp, tập trung giảm
thiểu tai nạn lao động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, sử dụng
điện và xây dựng;
c) Tăng cường công tác phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn;
d) Nâng cao chất lượng công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ;
đ) Tăng cường phòng, chống bệnh nghề nghiệp;
e) Tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện nâng cao nhận thức của các cấp,
các ngành, các tổ chức, cá nhân, phát huy vai trò của quần chúng tham
gia công tác bảo hộ lao động;
f) Nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ an toàn - vệ sinh lao động.
Cơ chế quản lý tài chính đối với Chương trình Bảo hộ lao động thực hiện
theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn
Luật; các văn bản hướng dẫn về quản lý và điều hành các Chương trình
mục tiêu quốc gia hiện hành.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì, điều phối thực
hiện Chương trình Bảo hộ lao động, chịu trách nhiệm tổng hợp đánh giá
tình hình thực hiện mục tiêu, nội dung và hiệu quả sử dụng kinh phí của
Chương trình Bảo hộ lao động.
Kinh phí thực hiện Chương trình bảo hộ lao động hàng năm được bố trí
trong dự toán chi ngân sách của các Bộ, ngành chủ trì dự án và dự toán
chi ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương
của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp thực hiện các
nhiệm vụ Chương trình (nếu có). Cùng với nguồn ngân sách Trung ương bổ
sung có mục tiêu, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ưu tiên bố
trí ngân sách địa phương; lồng ghép với các Chương trình, hoạt động
khác có liên quan trên địa bàn để thực hiện các mục tiêu của Chương
trình Bảo hộ lao động theo Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg ngày
18/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với các Dự án của Chương trình Bảo hộ lao động có nội dung chi đầu
tư xây dựng cơ bản được bố trí từ nguồn vốn xây dựng cơ bản của Chương
trình và thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản.
Nội dung và mức chi cho các dự án thuộc chương trình cụ thể như sau:
- Chi xây dựng và hoàn thiện các chính sách về bảo hộ lao động, an toàn
- vệ sinh lao động: nội dung và mức chi thực hiện theo quy định tại
Thông tư số 100/2006/TT-BTC ngày 23/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn
việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công
tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
- Chi cho các cuộc điều tra theo nội dung chuyên môn của từng dự án
được Bộ, ngành chủ dự án phê duyệt: nội dung và mức chi cụ thể áp dụng
theo quy định hiện hành về hướng dẫn quản lý kinh phí chi cho các cuộc
điều tra thuộc nguồn vốn sự nghiệp từ ngân sách nhà nước.
- Chi xây dựng tài liệu, giáo trình giảng dạy về bảo hộ lao động, an
toàn lao động và vệ sinh lao động: mức chi theo quy định hiện hành về
hướng dẫn nội dung chi, mức chi biên soạn chương trình khung, giáo
trình môn học.
- Chi thông tin, tuyên truyền, bao gồm:
a) Chi thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
như đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí: thực hiện theo hình thức
hợp đồng giữa cơ quan tuyên truyền và cơ quan thông tin đại chúng;
b) Chi in ấn các ấn phẩm, sách, tranh, ảnh, phim tuyên truyền
trên đĩa CD; chi làm pa nô, khẩu hiệu, thiết kế và nâng cấp trang Web:
Mức chi theo sản phẩm thực tế phù hợp với giá cả trên thị trường;
- Chi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:
- Chi hội nghị chuyên đề, tổng kết tình hình thực hiện Dự án; tập huấn
chuyên môn, nghiệp vụ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án: nội
dung và mức chi thực hiện theo Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày
21/3/2007 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ
chức hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công
lập.
- Chi tổ chức các cuộc thi, bao gồm các nội dung chi sau:
a) Biên soạn đề thi và đáp án (bao gồm cả biểu điểm): tối đa không quá 500.000 đồng/đề thi;
b) Bồi dưỡng chấm thi, Ban giám khảo cuộc thi, xét công bố kết quả thi: tối đa không quá 200.000 đồng/người/ngày.
c) Bồi dưỡng thành viên Ban tổ chức: tối đa không quá 150.000 đồng/người/ngày;
d) Thuê địa điểm, hội trường, phương tiện, máy móc thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu phù hợp với yêu cầu chuyên môn;
đ) Giải thưởng:
+ Giải tập thể: từ 200.000 đồng/giải thưởng đến 2.000.000 đồng/giải thưởng.
+ Giải cá nhân: từ 100.000 đồng/giải thưởng đến 1.000.000 đồng/giải thưởng.
Tuỳ theo quy mô tổ chức cuộc thi (cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp cơ sở),
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì tổ chức cuộc thi quyết định mức chi
giải thưởng cụ thể trong khung mức chi nêu trên trong phạm vi dự toán
ngân sách đã được cấp có thẩm quyền giao.
e) Tổng hợp, báo cáo kết quả cuộc thi: 500.000 đồng/báo cáo.
- Chi nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ sản xuất thử nghiệm
gắn với nội dung của dự án theo đề cương nghiên cứu đã được Bộ, ngành
chủ dự án phê duyệt: nội dung và mức chi thực hiện theo quy định tại
Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKH &CN ngày 4/10/2006 của
Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và công nghệ hướng dẫn chế độ khoán kinh phí
thực hiện đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà
nước và Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT/BTC-BKH &CN ngày
7/5/2007 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và công nghệ hướng dẫn định mức
xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học
và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.
- Chi hỗ trợ xây dựng mô hình quản lý an toàn - vệ sinh lao động trong doanh nghiệp:
- Đối với các khoản chi khác: Căn cứ vào hoá đơn, chứng từ chi tiêu hợp pháp theo quy định hiện hành.
Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện Chương trình:
Các nguồn kinh phí của Chương trình Bảo hộ lao động được quản lý, dự
toán, phân bổ và quyết toán theo các quy định hiện hành của Luật Ngân
sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật. Ngoài ra, Thông tư này
hướng dẫn bổ sung một số điểm cụ thể như sau:
- Lập dự toán:
a) Căn cứ nội dung và tổng mức vốn thực hiện Chương trình đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg ngày
18/10/2006, cơ quan chủ quản dự án chủ trì phối hợp với các cơ quan
liên quan xây dựng tổng mức kinh phí cho từng dự án và phân kỳ kinh phí
theo từng năm, gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét và tổng
hợp chung cả Chương trình gửi Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư có
cơ sở bố trí dự toán ngân sách nhà nước hàng năm trình cấp có thẩm
quyền quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
b) Hàng năm, vào thời gian lập dự toán ngân sách nhà nước theo quy định
của Luật Ngân sách nhà nước, căn cứ mức kinh phí từng dự án đã được
phân kỳ từng năm, cơ quan chủ trì dự án phối hợp với các cơ quan liên
quan xây dựng dự toán chi tiết các hoạt động của dự án trong năm gửi Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
trước ngày 20/7 để tổng hợp vào dự toán chi ngân sách nhà nước trình
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Phân bổ và giao dự toán:
a) Hàng năm, căn cứ tổng mức kinh phí của Chương trình Bảo hộ lao động
được cấp có thẩm quyền thông báo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
chủ trì phối hợp với các cơ quan chủ trì dự án phân bổ kinh phí cho các
Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phù hợp với mục
tiêu và nhiệm vụ thực hiện trong năm. Kết quả phân bổ gửi Bộ Tài chính
để tổng hợp chung vào dự toán ngân sách của các Bộ, ngành, địa phương
trình Thủ tướng Chính phủ để trình Quốc hội theo quy định của Luật Ngân
sách nhà nước.
Căn cứ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, các Bộ, ngành,
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện phân bổ và giao dự
toán cho các đơn vị có nhiệm vụ thực hiện dự án cùng với các khoản chi
ngân sách nhà nước khác theo quy định hiện hành.
b) Kinh phí thực hiện Chương trình Bảo hộ lao động được phân bổ theo
loại, khoản tương ứng và nhóm mục của mục lục ngân sách nhà nước, đồng
thời phân bổ và hạch toán theo mã số của Chương trình. Bộ Tài chính sẽ
quy định cụ thể mã số chương trình Bảo hộ lao động bằng văn bản riêng.
- Sử dụng và quyết toán kinh phí:
a) Các nguồn kinh phí của Chương trình Bảo hộ lao động được quản lý, sử
dụng và quyết toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế
toán và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Các cơ quan, đơn vị sử
dụng kinh phí của Chương trình Bảo hộ lao động phải mở sổ sách kế toán
để ghi chép, hạch toán và quyết toán các nguồn kinh phí của Chương
trình Bảo hộ lao động theo quy định của chế độ kế toán hành chính sự
nghiệp. Quyết toán kinh phí Chương trình Bảo hộ lao động được tổng hợp
vào quyết toán ngân sách hàng năm của các Bộ, cơ quan trung ương và địa
phương theo quy định.
b) Đối với các hoạt động của Chương trình Bảo hộ lao động do cơ quan
chủ trì dự án ký hợp đồng với các cơ quan phối hợp thực hiện thì chứng
từ làm căn cứ thanh, quyết toán được lưu tại cơ quan chủ trì dự án,
gồm: Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ (kèm theo dự toán chi tiết được cơ
quan chủ trì dự án phê duyệt), biên bản nghiệm thu công việc, biên bản
thanh lý hợp đồng, uỷ nhiệm chi hoặc phiếu chi và các tài liệu có liên
quan khác; các chứng từ chi tiêu cụ thể do cơ quan trực tiếp thực hiện
lưu giữ theo quy định hiện hành.
c) Các doanh nghiệp có thực hiện các hoạt động của Chương trình Bảo hộ
lao động (ngoài nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ) được chi theo nội dung
và mức chi quy định tại Thông tư này và hạch toán vào chi phí hợp lý
trước khi tính thuế thu nhập theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp và các văn bản hướng dẫn.
d) Các Dự án thuộc chương trình Bảo hộ lao động mua sắm trang thiết bị,
hàng hoá, vật tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu; đối
với những hàng hoá, dịch vụ đặt hàng thực hiện theo quy định tại Thông
tư số 05/2004/TT-BTC ngày 30/01/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý
giá hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước đặt hàng thanh toán bằng nguồn ngân
sách nhà nước.
- Chế độ báo cáo:
Thủ trưởng các Bộ, ngành chủ trì dự án, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm báo cáo tình
hình tài chính và kết quả thực hiện các Dự án gửi Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo quy định
hiện hành đối với Chương trình mục tiêu quốc gia.
Thông tư Liên tịch số 70 có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. |