|
NHỮNG VẤN
ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN
1-PTBVCN
là gì?
Phương tiện bảo vệ cá nhân ( PTBVCN) hay
thường quen gọI là Trang bị bảo hộ lao động - là những dụng cụ, phương tiện cần
thiết trang bị cho ngườI lao động ( NLĐ ) để ngăn ngừa tai nạn lao động và bảo
vệ sức khoẻ khi làm việc hay thực hiện
nhiệm vụ trong điều kiện có các yếu tố nguy hiểm, độc hại.
Kính chống bụi bảo vệ mắt, mũ an toàn
bảo vệ đầu khi có gạch đá rơi vào, dây an toàn để giữ người lại khi bị ngã từ
trên cao …kính, mũ, dây an toàn trong các ví dụ trên chính là các PTBVCN.
2- Có
những loại PTBVCN nào?
Căn cứ yêu cầu bảo vệ các bộ phận trên cơ thể người sử dụng, chúng ta có các
loại phương tiện bảo vệ (PTBV) sau :
- PTBV đầu.
- PTBV mắt & mặt.
- PTBV thính giác.
- PTBV hô hấp.
- PTBV tay.
- PTBVchân.
- PTBV thân thể.
Ngoài ra còn có các loại PTBVCN khác
như: phương tiện bảo vệ chống ngã cao, bảo vệ chống chết đuối, bảo vệ chống điện
giật…
3-Vai trò
vị trí của PTBVCN trong đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động.
Để đảm bảo an toàn & vệ sinh lao
động ( AT - VSLĐ), khi môi trường lao động có các yếu tố nguy hiểm, có hại phải
thực hiện các giải pháp kỹ thuật để loại trừ hoặc hạn chế tối đa tác hại của
chúng. Tuy nhiên do những lý do khác nhau, các yêu cầu trên chưa được thực hiện
hoặc dù đã thưc hiện nhưng vẫn có thể còn tồn tại hoặc tiềm ẩn những yếu tố có
nguy cơ gây tai nạn hoặc ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ NLĐ. PTBVCN cần thiết phải
được trang bị cho NLĐ trong trường hợp này.
Các giải pháp được thực hiện để đảm bảo
AT - VSLĐ trong sản xuất như xử lý điều kiện vi khí hậu, chống bụi, chống hơi
khí độc, chống ồn, chống rung động, ngăn ngừa các bức xạ có hại, che chắn, ngặn
chặn, cách ly .... trong đó PTBVCN là giải pháp sau cùng theo trình tự các bước
thực hiện.
4- Khi
nào cần sử dụng PTBVCN
Khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ
trong điều kiện phải tiếp xúc với một hoặc một số yếu tố nguy hiểm, độc hại nào
đó chúng ta đều phải sử dụng PTBVCN. Các yếu tố nguy hiểm, có hại đó có thể
xuất hiện khi:
+ Tiếp xúc với yếu tố vật lý xấu
(như nhiệt độ cao, nhiệt độ quá thấp, áp suất, tiếng ồn , rung chuyển, tia bức
xạ … vượt qúa giới hạn cho phép ).
+ Tiếp xúc với hoá chất độc hại (ở dạng hơi, khí, hay dạng
chất lỏng, rắn, bụi có thể thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, qua da, qua
đường tiêu hoá gây hại cho cơ thể con người…)
+ Tiếp xúc vài yếu tố sinh vật ,vi
trùng độc hại,môi trường VSLĐ xấu (như virút ,vi khuẩn độc hại hoặc các yếu tố
khác có thể gây bệnh truyền nhiễm, hôi thối, ýêu tố sinh học độc hại khác…)
+ Khi NLĐ phải làm việc trong điều
kiện vị trí. tư thế thao tác bất lợi (không gian chật chội, làm việc trên cao,
trong hầm lò, trên sông nước, trong rừng rậm gai góc…) hoặc các điều kiện nguy
hiểm, độc hại khác...
Cần xác định đầy đủ yếu tố nguy hiểm và
có hại trong mỗi công việc (theo phương pháp quan sát, phỏng vấn NLĐ, khám sức
khoẻ, đo đạc môi trường…) đánh giá mức độ nguy hại để đi đến quyết định cần cấp
phát những loại PTBVCN gì cho NLĐ, tính năng bảo vệ của mỗi PTBVCN cần cấp phát
ấy ra sao.
5- Giới
hạn bảo vệ của PTBVCN.
PTBVCN có khả năng ngăn ngừa tai nạn lao
động khi yếu tố gây nguy hiểm có cường độ tác động nằm trong giới hạn bảo vệ
của chúng.Với các tác nhân có thể gây bệnh nghề nghiệp, khả năng ngăn ngừa và
loại trừ tác hại khi sử dụng PTBVCN ở mức cao hơn nhiều.Tuy nhiên khả năng ấy
chỉ trở thành hiện thực khi NLĐ đã được trang bị đầy đủ PTBVCN có tính năng phù
hợp và sử dụng đúng.
6-Yêu cầu
chất lượng của PTBVCN
PTBVCN trang bị cho NLĐ phải phù hợp với
việc ngăn ngừa có hiệu quả tác hại của các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi
trường lao động nhưng dễ dàng trong sử dụng, bảo quản và không gây tác hại
khác.
Như vậy PTBVCN phải vừa có khả năng bảo
vệ, vừa phải đảm bảo yếu tố vệ sinh và tiện dụng. Các yêu cầu này được qui định
trong tiêu chuẩn chất lượng của mỗi loại PTBVCN với cơ sở pháp lý thống nhất do
cấp ngành hoặc cấp Quốc gia ban hành.
Cho đến nay đã có gần 500 Tiêu chuẩn
Việt nam (TCVN) trong lĩnh vực An toàn - Vệ sinh - Sức khoẻ được Nhà Nước ban
hành trong đó có hơn 70 TCVN về PTBVCN nhưng còn thiếu rất nhiều, hiện đang
được các cơ quan chức năng xây dựng, ban hành tiếp để hình thành một hệ thống
tiêu chuẩn đồng bộ và đầy đủ. Trong thời gian chờ đợi, với các loại PTBVCN mà
TCVN chưa đề cập chúng ta có thể tham khảo từ tiêu chuẩn ISO của Tổ chức Tiêu
chuẩn Đo lường Quốc tế. Điều này là phù hợp vì từ 10 năm nay các Tiêu chuẩn mới
của chúng ta đều được xây dựng trên cơ sở chấp nhận Tiêu chuẩn của Tổ chức này.
Thời gian gần đây, trong xu thế hội
nhập, ngày càng nhiều loại PTBVCN do nước ngoài sản xuất có mặt trên thị trường
Việt nam. Trên bao bì hoặc trực tiếp trên sản phẩm có in tên các Tiêu chuẩn như
EN, ANSI, BS, DIN, JIS v.v... Cần chú ý không phải Tiêu chuẩn nào cũng quy định
các thông số định lượng. Chẳng hạn có Tiêu chuẩn nội dung chỉ đề cập đến cách
Phân loại, Định nghĩa thuật ngữ, Phương pháp thử nghiệm, đánh giá…
7-Những
văn bản Pháp quy về PTBVCN:
Đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động,
chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống bệnh nghề nghiệp, giữ gìn sức
khoẻ NLĐ là một chủ trương, chính sách
kinh tế - Xã hội lớn của Nhà Nước Việt nam. Nhà nước đả ban hành nhiều văn bản
pháp quy về AT - VSLĐ ( Xem Danh mục các văn bàn Pháp quy về AT - VSLĐ ). Trong
số đó có nhiều văn bản liên quan trực tiếp đến lĩnh vực PTBVCN như : Bộ luật
lao động, Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995, Thông tư 10/1998/TT- BLĐTBXH; Quỵết định 955/1998/QĐ-BLĐTBXH với việc ban
hành Danh mục trang bị PTBVCN cho NLĐ làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm,
độc hạI; Quyết định 1320/1999/QĐ-BLĐTBXH; Quyết định 722/2002; Quyết định 205/2002/QĐ-BLĐTBXH ...
Các điều 95,100,101 của Bộ Luật lao động
quy định rõ “NLĐ làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại phải được cấp đầy
đủ PTBVCN , NSDLĐ phải đảm bảo các PTBVCN đạt tiêu chuẩn chất lượng và quy cách
theo quy định của pháp luật “
8-Trách
nhiệm của NSDLĐ trong thực hiện quy định về PTBVCN.
Các văn bản Pháp quy của Nhà nước quy
định rõ trách nhiệm của NSDLĐ về thực hiện AT-VSLĐ nói chung, trách nhiệm thực
hiện quy định về PTBVCN nói riêng.
Nội dung NSDLĐ phải có trách nhiệm thực
hiện các quy định về trang cấp PTBVCN gồmcác nội dung chủ yếu:
- Phải mua sắm và cấp phát PTBVCN
và cấp phát lại nếu PTBVCN bị mất, bị hỏng không phải do lỗi của NLĐ. Danh mục
cấp phát thực hiện theo Quyết định 955/1998/QĐ - BLĐTBXH do Bộ Lao động – Thương
binh - Xã hội ban hành.
Tuy nhiên với một nghề công việc
nhưng có thể xuất hiện những yếu tố nguy hại khác (do thiết bị, do công nghệ,
do tình trạng nhà xưởng, nguyên liệu sử dụng, điều kiện thời tiết, địa lý vùng
lãnh thổ, do ô nhiễm của môi trường xung quanh …).Trong trường hợp này ngoài
các PTBVCN theo Quyết định 955, NSDLĐ phải cấp phát bổ sung những PTBVCN cần
thiết khác cho NLĐ ( căn cứ điều 101 Bộ Luật lao động ).
- Phải đưa ra thời hạn sử dụng
PTBVCN phù hợp. Thời hạn này căn cứ tính chất công việc và chất lượng của
PTBVCN cấp phát, sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức Công đoàn cơ sở.
- Phải tổ chức huấn luyện, hướng
dẫn NLĐ sử dụng thành thạo các PTBVCN trước khi cấp phát và kiểm tra chặt chẽ
việc sử dụng. Nội dung huấn luyện NSDLĐ tối thiểu phải làm cho NLĐ hiểu rõ :
Khi nào phải mang PTBVCN? Cần sử dụng những PTBVCN nào trong khi làm việc ?
Thực hiện các thao tác khi mang , cởi bỏ, điều chỉnh như thế nào là đúng cách ? Phương pháp bảo dưỡng , giữ gìn
PTBVCN ra sao? Giới hạn sử dụng và khi nào cần loại bỏ PTBVCN. Các nội dung
huấn luyện phải được kiểm tra đánh giá, NLĐ nào khi huấn luyện chưa đạt yêu cầu
phải huấn luyện lại.
- PhảI cấp phát PTBVCN có công
dụng bảo vệ phù hợp.Trước khi cấp phát phải kiểm tra lại chất lượng , đồng thời
phải định kỳ kiểm tra trong quá trình NLĐ sử dụng và ghi sổ theo dõi các PTBVCN
chuyên dùng có yêu cầu an toàn cao như găng cách điện, ủng cách điện , phương
tiện lọc hơi khí độc, dây an toàn, phao cứu sinh v.v…
- Phải bố trí nơi cất giữ, bảo quản hợp lý.không bình
thường, thậm chí khó chịu. Mỗi đơn vị phải có biện pháp tuyên truyền giáo dục
kết hợp hình thức hành chính cần thiết
- NSDLĐ không được cấp phát tiền
thay hiện vật hoặc giao tiền cho NLĐ tự mua sắm PTBVCN.
PTBVCN có thực sự trở thành giải pháp
hiệu quả bảo vệ sức khoẻ và an toàn trong lao động phụ thuộc rất lớn vào việc
thực hiện trách nhiệm nêu trên của NSDLĐ.
Để chủ động khi thực hiện, NSDLĐ cần xây
dưng kế hoạch PTBVCN cho đơn vị mình.Trong đó phải xác định các yếu tố nguy
hiểm và độc hại trong từng công việc, xây dựng danh mục trang cấp phù hợp, xác
định yêu cầu chất lượng, kế hoạch mua sắm, huấn luyện, cấp phát, tổ chức quản
lý kiểm tra theo dõi thực hiện. Mỗi đơn vị cần có bản quy chế quy định về việc
cấp phát, sử dụng, bảo quản, khen thưởng, kỷ luật trong thực hiện quy định về
trang bị PTBVCN .Trước khi ban hành cần lấy ý kiến công đoàn cơ sở và phổ biến
rộng rãi để NLĐ thực hiện.
9- Trách
nhiệm của NLĐ trong thực hiện quy định về PTBVCN.
Để thực hiện tốt quy định về PTBVCN cần
có sự phối hợp chặt chẽ giữa NSDLĐ và NLĐ.
NLĐ khi đã được trang cấp PTBVCN thì bắt
buộc phải sử dụng PTBVCN theo đúng quy định trong khi làm việc. Không được sử
dụng PTBVCN vào mục đích riêng, sai mục đích.
NLĐ phải biết được tác hại nếu không
mang PTBVCN. Phải biết giới hạn bảo vệ, cách thực hiện các thao tác khi mang
vào, tháo ra, điều chỉnh, vệ sinh, bảo dưỡng, bảo quản PTBVCN theo huấn luyện
của NSDLĐ.
Bằng trực quan, trước mỗi khi sử dụng
NLĐ cần kiểm tra sự toàn vẹn của PTBVCN mình sẽ dùng. Điều này là bắt buộc khi
sử dụng các PTBVCN có liên quan trực tiếp đến các yếu tố nguy hại có thể gây
tai nạn tức thời như dây an toàn, găng ủng cách điện, phương tiện phòng chống
hơi khí độc....
Khi chưa được cấp phát PTBVCN, hoặc cấp
phát không đủ, không phù hợp NLĐ cần
phải phản ánh, yêu cầu NSDLĐ xử lý.
Mỗi NLĐ cần thấy rằng khi mang PTBVCN
thì ít nhiều cũng có cảm giác không bình thường, thậm chí khó chịu. nhưng nếu
không sử dụng sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến an toàn và sức khoẻ của chính bản thân
mình, vì vậy phải tự giác sử dụng.
Theo quy định chung NLĐ sẽ phải bồi
thường khi làm hỏng, làm mất PTBVCN mà không có lý do chính đáng. Tùy theo quy
định của mỗi đơn vị, NLĐ phải trả PTBVCN khi không còn làm việc tại đơn vị nữa
nếu NSDLĐ yêu cầu.
|